30/01/2015 17:06
Cỡ chữ Chuẩn Tương phản

Một số kết quả bước đầu trong nghiên cứu phát triển bộ kit chẩn đoán vi khuẩn lao không điển hình (Nontuberculosis mycobacteria – NTM) trên bệnh nhân nghi mắc bệnh lao

Chính vì lý do đó, Trung tâm Phát triển công nghệ cao đã có nhiệm vụ ươm tạo năm 2014: “Nghiên cứu phát triển bộ kit chẩn đoán vi khuẩn lao không điển hình (Nontuberculosis mycobacteria – NTM) trên bệnh nhân nghi mắc bệnh lao” do ThS. Phan Minh Tuấn là chủ nhiệm đề tài, đề tài được thực hiện từ tháng 4/2014 đến tháng 12/2014. Đề tài này được đề xuất với mục tiêu phát triển quy trình chẩn đoán NTM nhanh và chính xác dựa trên nguyên lý của phương pháp PCR và tập trung cải tiến các khâu trong quy trình theo hướng đơn giản, an toàn với môi trường và tiến tới thử nghiệm bộ sản phẩm hoàn thiện tại các cơ sở y tế nhằm đánh giá chính xác chất lượng, độ đặc hiệu và sự ổn định trong quá trình sử dụng.

Phương pháp PCR, hay phản ứng khuếch đại chuỗi (Polymerase Chain Reaction): Có thể coi là viên gạch nền móng – đem lại một cuộc cách mạng trong lĩnh vực chẩn đoán phân tử, cho phép xác định tác nhân gây bệnh trực tiếp trong bệnh phẩm nhờ khả năng nhận biết và sao chép để khuyếch đại về mặt số lượng đoạn trình tự đặc hiệu trên genom của vi khuẩn gây bệnh cần phát hiện. Do vậy ưu điểm của phương pháp chẩn đoán dựa vào PCR là tốc độ, tính đặc hiệu và độ nhạy cao.

1. Kết quả tách chiết DNA tổng số:

Ba quy trình tách chiết DNA đã được nhóm nghiên cứu thực hiện và tối ưu hóa, sử dụng vật liệu ban đầu là mẫu bệnh phẩm NTM1đã được khử tạp. DNA tổng số của NTM1 này được kiểm tra bằng kỹ thuật điện di trên agarose 0,8% với 3µl mẫu/giếng

Giếng 1: Quy trình 1 (BOOM kit);

Giếng 2: Quy trình 2 (phương pháp của Haemophilus             influenzae);

Giếng 3: Quy trình 3 (sử dụng đệm chiết);

Kết quả điện di trên hình 1 cho thấy khi sử dụng quy trình 1 (BOOM kit) hoặc quy trình 3 (sử dụng đệm chiết) nhóm nghiên cứu đều thu được băng DNA tổng số rõ nét (giếng 1, giếng 3), thể hiện chất lượng và hàm lượng DNA tổng số khá tốt. Ngược lại, DNA tổng số tách theo quy trình 2 (tách DNA theo phương pháp của Haemophilus influenzae) có hàm lượng rất ít, không quan sát được băng vạch DNA rõ nét (giếng 2).

Hình ảnh điện di kiểm tra DNA tổng số tách từ mẫu NTM 1 theo 3 quy trình tách chiết

2. Kết quả nhân Gen (PCR)

Kết quả điện di sản phẩm PCR

Cặp mồi được sử dụng trong phản ứng nhân gen:

-16S For: 5’-ACCTCAAGACGCATTCTTC – 3’

-16S Rev: 5’-CGACAGCTCCCTCCAAAAG – 3’

Đoạn trình tự 16S được nhân lên bởi cặp mồi này có kích thước lý thuyết là: 1282 bp. Cặp mồi được thiết kế đặc trưng cho chủng M.avium complex

Kết quả hiện trên bản điện di cho thấy: đoạn mồi có khả năng nhân lên đoạn gen có kích thước khoảng 1282 bp, giống với kích thước của đoạn gen đặc hiệu mà nhóm nghiên cứu xác định trên chủng NTM gốc. Ngoài ra, khi cho phản ứng PCR với mẫu bệnh phẩm của bệnh nhân lao điển hình, nhóm không quan sát được băng DNA trên bản điện di, chứng tỏ rằng đoạn mồi được thiết kế là đặc hiệu, không tương thích với trình tự gen của vi khuẩn MTB.

3. Kết quả phân tích trình tự nucleotid (Sequencing)

Kết quả trình tự thu nhận được hiển thị bằng phần mềm BioEdit

Kết quả trình tự được so sánh với các mẫu đối chứng

Kết quả hình ảnh trình tự thu nhận được cho peak rõ ràng, không bị nhiễu chứng tỏ cặp mồi được thiết kế chính xác, phù hợp. Kích thước đoạn gen thu nhận được đúng với kích thước thiết kế trên lý thuyết (1282bp)

Trình tự chủng M.Avium phân lập từ mẫu bệnh BN001 được so sánh với trình tự chủng chuẩn M.Avium (ATCC-25291) thương mại, trình tự chủng chuẩn M.Avium ATCC-25291 được công bố trên ngân hàng gen quốc tế mã số GQ153272 và trình tự chủng vi khuẩn lao được công bố trên ngân hàng gen quốc tế với mã số JX 266698 để đánh giá tính đặc hiệu của cặp mồi trong chẩn đoán vi khuẩn lao không điển hình. 

Kết quả cho thấy: trình tự chủng ATCC-25291 thương mại có trình tự tương đồng 100% so với trình tự chủng ATCC-25291 được công bố trên ngân hàng gen quốc tế mã số GQ153272. Trình tự BN001 phân lập được có tính tương đồng cao với trình tự ATCC-25291 trong vùng gen định danh 16S với 4 điểm sai khác (độ tương đồng trên 99%), và có khác biệt 19 vị trí so với trình tự của vi khuẩn lao JX266698. điều này giải thích tính đặc hiệu của cặp mồi trong chẩn đoán vi khuẩn lao không điển hình. 

Bộ sinh phẩm – Kết quả ban đầu của đề tài

Qua nghiên cứu, nhóm nghiên cứu đề tài đã thành công bước đầu trong việc thiết kế, chứng mình cơ sở khoa học và hoàn thiện được bộ sản phẩm là bộ sinh phẩm chẩn đoán nhanh bệnh NTM (MAC); thờigian phát hiện vi khuẩn qua mẫu bệnh phẩm theo phương pháp PCR rút ngắn, chỉ còn 24h-48hso với 15 – 40 ngày theo phương pháp truyền thống; Bộ sinh phẩm được kiểm chứng với mẫu chuẩn và mẫu bệnh phẩm cho kết quả đạt độ nhạy và độ đặc hiệu 100% tương đương kỹ thuật nuôi cấy và định danh vi khuẩn truyền thống ở quymô phòng thí nghiệm.

Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là một công cụ hữu hiệu hỗ trợ đắc lực cho ngành chẩn đoán cận lâm sàng tại các bệnh viện, trung tâm y tế trong cuộc đấu tranh chống lại bệnh nhiễm trùng so NTM là căn nguyên, nhẵm giảm bớt thiệt hại về tình trạng sức khỏe, thời gian, tâm lý cũng như tài chính của bệnh nhân cũng như cộng đồng xã hội.

Nguồn tin: ThS. Phan Minh Tuấn - Phòng Phát triển công nghệ Y- Sinh

Xử lý tin: Thu Huyền

Các bài viết khác cùng danh mục
THIẾT BỊ GIÁM SÁT HÀNH TRÌNH LẮP ĐẶT TRÊN TÀU CÁ - SẢN PHẨM KHOA HỌC CÔNG NGHỆ MỚI CỦA TRUNG TÂM PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ CAO THIẾT BỊ GIÁM SÁT HÀNH TRÌNH LẮP ĐẶT TRÊN TÀU CÁ - SẢN PHẨM KHOA HỌC CÔNG NGHỆ MỚI CỦA TRUNG TÂM PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ CAO
THIẾT BỊ GIÁM SÁT HÀNH TRÌNH LẮP ĐẶT TRÊN TÀU CÁ - SẢN PHẨM KHOA HỌC CÔNG NGHỆ MỚI CỦA TRUNG TÂM PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ CAO
Nghiên cứu ứng dụng công nghệ lọc sinh học cải tiến xử lý nước thải tại Bệnh viện Điều dưỡng - Phục hồi chức năng thành phố Đà Nẵng Nghiên cứu ứng dụng công nghệ lọc sinh học cải tiến xử lý nước thải tại Bệnh viện Điều dưỡng - Phục hồi chức năng thành phố Đà Nẵng
Sau nhiều năm nghiên cứu và thử nghiệm công nghệ lọc sinh học nhỏ giọt trong xử lý nước thải y tế, Viện Công nghệ môi trường – Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể trong việc cải thiện môi trường sống cũng như bảo vệ sức khỏe cộng đồng cho nhiều bệnh viện trong cả nước: bệnh viện C (Hà Nội), bệnh viện Lao và Bệnh phổi Thái Nguyên, bệnh viện Tâm thần Hưng Yên, bệnh viện Đa khoa Quỳnh Phụ tỉnh Thái Bình…
Ứng dụng công nghệ tiên tiến trong công tác xử lý chất thải nguy hại tại cụm 7 cơ quan y tế tỉnh Đồng Tháp Ứng dụng công nghệ tiên tiến trong công tác xử lý chất thải nguy hại tại cụm 7 cơ quan y tế tỉnh Đồng Tháp
Trên cơ sở Hợp tác khoa học công nghệ giữa Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam và Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Tháp, PGS.TS.Trịnh Văn Tuyên, Viện trưởng Viện Công nghệ môi trường cùng nhóm nghiên cứu đã tiến hành thực hiện đề tài “Nghiên cứu xây dựng Hệ thống xử lý chất thải rắn và lỏng tại cụm 7 cơ quan y tế tỉnh Đồng Tháp”. Trong hai năm thực hiện (2014-2015), nhóm nghiên cứu đề tài đã thu được nhiều kết quả đáng ghi nhận và xây dựng thành công hệ thống xử lý chất thải lỏng và chất thải rắn y tế nguy hại với chi phí thấp tại cụm 7 cơ quan y tế tỉnh Đồng Tháp.
02 sản phẩm của Viện Hàn lâm KHCNVN được tuyên dương tại Festival “Sáng tạo trẻ” toàn quốc lần thứ VIII năm 2015 02 sản phẩm của Viện Hàn lâm KHCNVN được tuyên dương tại Festival “Sáng tạo trẻ” toàn quốc lần thứ VIII năm 2015
Festival “Sáng tạo trẻ” toàn quốc là hoạt động thường niên được Trung ương Đoàn tổ chức hàng năm nhằm khuyến khích, cổ vũ đoàn viên, thanh niên phát huy sáng kiến, ý tưởng sáng tạo, cải tiến kỹ thuật, làm chủ khoa học công nghệ; đồng thời động viên, tôn vinh những cá nhân, tập thể có công trình, sản phẩm tiêu biểu toàn quốc.